Gọi 0978938505 để được tư vấn miễn phí

Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ: Khơi dậy sức mạnh từ những “đối tác vắng mặt”

Trong khi mô hình quan hệ truyền thống giữa nhà sản xuất và nhà nhập khẩu vẫn còn phổ biến thì các mô hình thương mại điện tử đang mở rộng hơn bao giờ hết lại đặt ra những thách thức trong quản lý chuỗi cung ứng, bao gồm vấn đề bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Chúng tôi xin giới thiệu bài viết của Dan Baldwin, từng là lãnh đạo cao cấp của cơ quan Hải quan và bảo vệ biên giới Hoa Kỳ. Hiện nay ông đang phối hợp với khu vực tư nhân và các tổ chức quốc tế để xây dựng chiến lược hợp tác nhằm hỗ trợ vai trò của Hải quan trong việc bảo vệ an toàn cộng đồng và thương mại toàn cầu.

Trong vài tháng qua, tôi đã tham dự nhiều sự kiện về thực thi pháp luật tập trung vào việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ (SHTT), mà sự kiện quan trọng nhất là Hội nghị quốc tế về thực thi pháp luật và tội phạm SHTT do INTERPOL và Tổ chức Underwriters Laboratories diễn ra tại thành phố Hà Nội, Việt Nam năm 2014, với sự tham dự của hàng trăm chuyên gia thực thi pháp luật, cán bộ hải quan, những chủ SHTT, điều tra viên tư nhân và luật sư.

Tuy nhiên, khi tập trung nghiên cứu danh sách những người tham dự và thuyết trình, tôi nhận ra rõ ràng có một nhóm đối tác vắng mặt: Các nhà nhập khẩu đâu? Các nhà bán lẻ đâu? Và quan trọng nhất là những doanh nghiệp thương mại điện tử khổng lồ đâu?

Việc phát triển quyền SHTT dĩ nhiên đóng vai trò là một nền tảng để phát triển kinh tế và mang lại sự tăng tưởng rất lớn thông qua việc áp dụng SHTT trong thập kỷ vừa qua. Theo Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO), số lượng hồ sơ đăng ký nhãn hiệu đã tăng theo cấp số nhân trong mười năm qua. Từ năm 2003 đến 2013, số lượng hồ sơ đăng ký nhãn hiệu hàng năm ở Mỹ tăng hơn 90% – mức gia tăng rất ấn tượng đối với một nền kinh tế phát triển, nhưng không có nghĩa là tăng nhanh nhất. Brazil, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc và Nam Phi (nhóm BRICS) có chung một tốc độ gia tăng hồ sơ đăng ký nhãn hiệu hàng năm đáng kinh ngạc – hơn 261%. Ngay cả những nước đang phát triển như Việt Nam, hồ sơ đăng ký nhãn hiệu hàng năm cũng tăng 188%.

Tất nhiên, sự tăng trưởng này cũng tạo ra cơ hội ngàn vàng cho những kẻ muốn vượt mặt các quy định pháp luật nhằm khai thác “cơ hội kinh doanh”, để dành các quy định pháp luật đó cho Hải quan và các cơ quan thực thi pháp luật khác – vốn đang phải cố gắng truy bắt những tên tội phạm.

Trong năm 2013, cơ quan Hải quan và Bảo vệ Biên giới Hoa Kỳ (CBP) và cơ quan Thực thi hải quan và Nhập cư Hoa Kỳ (ICE) đã thu giữ trong hơn 25.000 lô hàng nhập khẩu vi phạm, cao hơn hơn 400% so với số lượng bắt giữ của thập kỷ trước.

Thương mại điện tử: Cơ hội và thách thức mới trong thực thi quyền SHTT

Thập niên qua không chỉ chứng kiến sự bùng nổ trong vấn đề quyền SHTT, mà còn chứng kiến sự thay đổi lớn trong phương thức lưu thông các sản phẩm vi phạm trên khắp thế giới. Đầu thập kỷ, đã có sự tập trung rõ rệt vào hàng hóa đường biển. Lực lượng Hải quan thì tập trung chủ yếu vào lượng hàng hóa lớn nhất nhập khẩu vào nước mình; người nắm giữ quyền SHTT quan tâm đến số lượng bị bắt giữ nhiều nhất; điều tra viên và công tố viên nghiên cứu những thiệt hại đáng kể nhất về kinh tế nhằm tăng các trường hợp bị truy tố. 

Tuy nhiên, ngày nay, phần lớn các hoạt động hải quan liên quan đến các lô hàng cá nhân lại diễn ra trong môi trường chuyển phát nhanh và bưu chính: Trên 80% các chiến dịch truy quét tại Mỹ hiện nay liên quan đến những lô hàng nhỏ lẻ vận chuyển theo phương thức này.

Cuộc cách mạng thương mại điện tử đã mang đến một hình thức xuất nhập khẩu mới cho hàng hóa. Dĩ nhiên, các hãng vận tải biển, hàng không và bưu chính vẫn là chủ chốt trong hoạt động vận chuyển hàng hóa từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ. Nhưng việc giám sát đối với hàng hóa đã thay đổi, vì những tổ chức kinh doanh thương mại điện tử khổng lồ và các hãng chuyển phát nhanh đang kiểm soát một phần quan trọng các sản phẩm tiêu dùng trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Gần như tất cả các nước phát triển đều đang xây dựng các chiến lược thúc đẩy thương mại điện tử tăng trưởng nhanh chóng nhằm hợp lý hóa chuỗi cung ứng và đưa sản phẩm vào thị trường cũng như tới người tiêu dùng nhanh chóng.

Đối với mục tiêu của Hải quan, mô hình thương mại điện tử ảnh hưởng mạnh nhất là mô hình giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp (B2B) và doanh nghiệp với người tiêu dùng (B2C), vì chiếm phần lớn hoạt động lưu thông trong thế giới thương mại điện tử. Các hình thức kinh doanh do các doanh nghiệp thương mại điện tử điều hành chính là cách thức mà Hải quan hợp tác với các doanh nghiệp để giải quyết vấn đề quyền SHTT.

Có một số doanh nghiệp thương mại điện tử lớn quản lý hiệu quả kho hàng của mình, còn lại những cơ sở kinh doanh khác thường tiếp thị hàng ảo – tức là họ tiếp thị hàng hóa nhưng không có hàng trong kho mà chỉ thực hiện chức năng trung gian, vận chuyển hàng hóa từ nhà sản xuất đến người tiêu dùng. Trong khi các mô hình quan hệ truyền thống giữa nhà sản xuất và nhà nhập khẩu vẫn còn phổ biến thì các mô hình thương mại điện tử đang mở rộng hơn bao giờ hết lại đặt ra những thách thức đối với vấn đề quản lý chuỗi cung ứng, bao gồm vấn đề bảo vệ quyền SHTT. Vậy Hải quan phải làm gì để bảo vệ quyền SHTT?

Quan hệ hợp tác giữa Hải quan và cộng đồng thương mại điện tử: Mấu chốt để giải quyết vấn đề

Phương pháp thực thi hải quan và bảo vệ quyền SHTT truyền thống từ trước đến nay tập trung chủ yếu vào việc phát hiện và ngăn chặn các lô hàng cá nhân. Tuy nhiên, quyền hạn truyền thống của lực lượng Hải quan hiện nay đã bị hạn chế theo luật pháp quốc gia và các hiệp định thương mại. Trong khi một số quốc gia cho phép cơ quan Hải quan có quyền mặc nhiên, giúp họ có đủ thẩm quyền đấu tranh với các hành vi xâm phạm quyền SHTT, thì các quốc gia khác lại chọn cách tuân thủ nghiêm ngặt các tiêu chuẩn tối thiểu trong Hiệp định về Quyền Sở hữu trí tuệ trong thương mại (TRIPS) do Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) xây dựng lên.

Đối với việc thực thi pháp luật quốc tế nhắm vào tội phạm trên mạng, Hải quan không phải là cơ quan điều tra thực thi chính.

Khung tiêu chuẩn an ninh và thuận lợi hóa thương mại toàn cầu SAFE (gọi tắt là Khung tiêu chuẩn SAFE) của Tổ chức Hải quan Thế giới (WCO) và các bài học kinh nghiệm trong an ninh chuỗi cung ứng đã dạy chúng ta một điều: Một vấn đề phức tạp như vậy không thể giải quyết bằng một giải pháp đơn lẻ. Ví dụ, chúng ta đã có được những lợi ích rất lớn trong lĩnh vực an ninh hàng không khi hợp tác với các hãng vận tải hàng hóa.

Do các hãng vận tải hàng hóa kiểm soát một khối lượng đáng kể các thông tin vô cùng hữu ích cho cơ quan Hải quan trong việc xác định mục tiêu và ngăn chặn vi phạm, nên tận dụng khả năng của các công ty này có thể đem lại những thông tin tình báo rất quan trọng. Ngoài ra, các công ty này còn đầu tư những khoản rất lớn nhằm đảm bảo tính nguyên vẹn cho những sản phẩm mà họ cung cấp ra thị trường. Đổi lại, Hải quan cam kết sẽ cung cấp các ưu đãi, chủ yếu thông qua việc xử lý thông quan hàng hóa nhanh để bù đắp cho sự đầu tư của họ.

Tất nhiên, mô hình này khá tương đồng với mô hình Doanh nghiệp ưu tiên (AEO). Điều băn khoăn thực sự ở đây là: mô hình AEO có thể giúp Hải quan thực hiện nhiệm vụ bảo vệ quyền SHTT không?

Gần đây, Alibaba – một trong những công ty thương mại điện tử lớn nhất thế giới – đã báo cáo số liệu đáng kinh ngạc về việc giảm thiểu tác động của hàng giả và vi phạm bản quyền trong chuỗi cung ứng của mình như sau:

– Từ tháng 01/2013 đến tháng 11/2014, Alibaba chi hơn một tỷ Nhân dân tệ, tương đương khoảng 163 triệu đô la cho các chương trình bảo vệ quyền SHTT;

– Hơn 80 triệu sản phẩm đã bị Alibaba xóa bỏ vì vi phạm quyền SHTT;

– Alibaba có hơn 2.000 nhân viên được đào tạo đặc biệt để bảo vệ khách hàng tránh khỏi các vấn đề về quyền SHTT.

Đây là những con số đáng lưu ý khi xem xét giá trị bề nổi nhưng tôi muốn đưa ra một quan điểm nghiên cứu khác: Nếu Alibaba và các hãng thương mại điện tử khổng lồ dùng các khoản đầu tư này vào mục đích bảo vệ chuỗi cung ứng của họ khỏi các sản phẩm vi phạm bản quyền, liệu Hải quan có thể tận dụng được khả năng của họ theo cách thức tương tự như tận dụng các doanh nghiệp AEO trong vấn đề an ninh, ma túy và chống buôn lậu không?

Xét về phương diện này, WCO đóng một vai trò quan trọng trong việc mở ra khả năng quan hệ đối tác mạnh hơn, cộng tác nhiều hơn với cộng đồng thương mại điện tử trong cuộc chiến chống hàng giả và vi phạm bản quyền. Với việc áp dụng mô hình AEO, giờ đây cơ quan Hải quan đã có ảnh hưởng rõ ràng và lớn hơn đối với chuỗi cung ứng thương mại điện tử. Nhờ đó, WCO đang có vị thế hoàn hảo để dẫn dắt một “cuộc đối thoại” với ngành kinh tế mới nổi này. “Cuộc đối thoại” phải bao gồm các yếu tố chính sau đây:

– Triệu tập một cuộc họp bàn tròn về thương mại điện tử để bảo vệ quyền SHTT. Cuộc họp cần tập trung rõ ràng vào quyền và lợi ích giữa các bên, không được cứng nhắc theo kiểu cố áp đặt các nghĩa vụ không thực tế;

– Áp dụng nguyên tắc chuỗi cung ứng để bảo vệ quyền SHTT: Hải quan sẽ đạt kết quả tốt nhất khi thực hiện hàng loạt các hoạt động tập trung vào phòng ngừa, bảo vệ, cũng như truy tố sau này. Nguyên tắc an ninh chuỗi cung ứng có thể áp dụng như một mô hình tiếp cận nhiều lớp hơn trong việc bảo vệ quyền SHTT;

– Xác định các tiêu chuẩn chung để bảo vệ chuỗi cung ứng/quyền SHTT: Nền tảng hợp tác phải được xây dựng dựa trên hàng loạt các tiêu chuẩn cần thiết để bảo vệ chuỗi cung ứng quốc tế khỏi các sản phẩm vi phạm quyền SHTT. Để đạt được hiệu quả và hạn chế các hoạt động không cần thiết, điều quan trọng là cả Hải quan và cộng đồng thương mại điện tử phải đạt được sự đồng thuận về những tiêu chuẩn sẽ áp dụng;

– Đề xuất các ưu đãi mang tính sáng tạo: Nên khuyến khích nỗ lực của các đối tác thương mại điện tử tự nguyện tham gia cuộc chiến chống hàng giả và vi phạm bản quyền, ví dụ như cơ quan Hải quan sẽ đưa ra những lợi ích cho các công ty nỗ lực tham gia bảo vệ an ninh quốc tế.  Các ưu đãi có thể là cơ hội thông quan nhanh hay được hạn chế các hành động trừng phạt… đối với các doanh nghiệp tự nguyện cung cấp thông tin và khắc phục yếu kém trong chuỗi cung ứng SHTT;

– Công bố các thành tựu chung: Cả chính phủ và khu vực tư nhân đều đưa ra các thông báo độc lập về kết quả thực tiễn của mỗi bên, những vụ việc thành công và các khoản đầu tư lớn đã chi ra để bảo vệ chuỗi cung ứng SHTT. Khi có thể, cần có những tuyên bố chung nêu bật quan hệ đối tác giữa Hải quan – cộng đồng thương mại điện tử. Những kẻ làm hàng giả phải lo sợ trước mối quan hệ hợp tác này, vì nó sẽ mở rộng hàng rào bảo vệ trên toàn bộ chuỗi cung ứng.

Khi đối mặt với những khó khăn, thách thức ngày càng lớn  hơn, giải pháp tốt nhất chính là dựa vào mối quan hệ hợp tác giữa các đối tác – những người có chung một mục đích và lợi ích.

Theo Tú Uyên (dẫn nguồn Tổng cục Hải quan Việt Nam)

Tổng hợp từ wdanielbaldwin@comcast.net và wdanielbaldwin@yahoo.com